CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC  MẦM NON TẠI ROSEMONT - Trường Mầm Non Quốc Tế Mỹ Rosemont

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON TẠI ROSEMONT

 

   Phương pháp giáo dục tại Trường Mầm Non Quốc Tế Mỹ Rosemont (RAIS) được thiết kế nhằm đan xen các nhân tố của một giáo trình mầm non toàn diện. Các bài học và các hoạt động phải đảm bảo các tiêu chí sau:

 

  • Phải bao gồm tất cả các phong cách học tập(1)
  • Phải thiết kế các góc hoạt động đáp ứng và phát huy được tám dạng trí thông minh của thuyết trí thông minh đa diện(2)
  • Phải bao gồm mọi khía cạnh của các vùng phát triển(3)
  • Phải bao gồm đủ các lĩnh vực chủ đề (4)
  • Phải dựa trên các chủ đề hấp dẫn với các sở thích của trẻ(5)

   Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu sâu thêm về các nhân tố của phương pháp giáo dục tại RAIS và vai trò của mỗi nhân tố trong chương trình giáo dục mầm non chất lượng cao này.

 

1: Phong cách học tập

 

   Khi bạn cố gắng học một kiến thức mới, có thể bạn sẽ muốn học bằng cách nghe ai đó nói hoặc giảng cho bạn về kiến thức này. Có người thì thích đọc để tiếp nhận các kiến thức, có người thì cần được nhìn những hình ảnh mình họa cho kiến thức họ muốn tiếp nhận. Thuyết về các phong cách học tập giúp phân loại đối tượng học sinh có các phong cách học tập khác nhau. Việc nhận biết một học sinh có phong cách học tập nào rất quan trọng đối với việc giáo dục học sinh đó.

 

   Hầu hết chúng ta đều có một phong cách học tập của riêng mình cũng như có một kênh mà chúng ta có thể tiếp nhận thông tin đến não bộ một cách hiệu quả. Có những người trong chúng ta nghiêng về tiếp nhận thông tin qua thính giác. Những người nhạy về thính giác dễ dàng chú ý tới các thông tin được truyền tới họ bằng lời nói. Có những người nghiêng về tiếp nhận thông tin bằng thị giác. Những người này học tập hiệu quả nhất bằng cách nhìn hình ảnh. Những người khác thì nghiêng về vận động. Họ học hiệu quả nhất khi chúng ta cung cấp cho họ kiến thức thông qua các hoạt động ứng dụng. Có vài trường hợp người học khá cân bằng về các phong cách học tập, họ sử dụng các phong cách học tập khác nhau cho các tình huống học tập khác nhau để tiếp nhận thông tin một cách trọn vẹn nhất.

 

   Hãy nghĩ về lần gần đây nhất bạn thanh toán tiền khi mua hàng. Khi người bán hàng thông báo cho bạn tổng số tiền, bạn chỉ đếm tiền để trả hay bạn sẽ nhìn màn hình để kiểm tra số tiền? Bạn có cầm hóa đơn trong tay để kiểm tra trước khi trả tiền? Câu trả lời của bạn cho câu hỏi này chính là câu trả lời cho câu hỏi bạn thuộc phong cách học tập nào.

 

   Lấy một ví dụ từ một lớp học mầm non. Khi đọc một câu chuyện, giáo viên sẽ phát âm (nói), điều này có lợi cho những em học sinh có phong cách tiếp nhận thông tin nghiêng về thị giác. Giáo viên chỉ vào tranh minh họa cho từng nội dung, điều này giúp ích cho những em học sinh có phong cách học tập nghiêng về tiếp nhận hình ảnh. Những em học sinh nghiêng về phong cách ứng dụng thì sẽ học được tốt nhất nếu các em được trực tiếp cầm cuốn sách (hoặc bản copy của cuốn sách) hay giúp cô lật mở các trang sách. Nếu giáo viên tích hợp được các cánh tiếp cận khác nhau nhằm đáp ứng được cả ba phong cách học tập này thì học sinh sẽ có cơ hội phát huy kênh tiếp nhận thông tin thế mạnh của mình nhằm tối ưu hóa việc học.

 

   Phương pháp giáo dục của RAIS cung cấp vô số các hoạt động hấp dẫn các phong cách học tập khác nhau.

 

2: Thuyết trí thông minh đa diện

 

   Khái niệm Trí thông minh đa diện là khái niệm mới nhất mà các giáo viên thường cân nhắc đưa vào khi thiết kế các bài giảng nhằm đáp ứng sự khác biện của từng cá nhân. Thuyết trí thông minh đa diện là nghiên cứu của Howard Gardner, được giới thiệu lần đầu năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind.

 

   Quan niệm cũ cho rằng Trí thông minh được đo lường bằng điểm số của những bài IQ test, cụ thể là Thang đo mức độ thông minh Standford Binet, cho đến tận khi Gardner giới thiệu sự tồn tại của 8 dạng năng lực. Vấn đề của các dạng bài IQ test truyền thống là chúng chỉ có thể đo lường được khả năng ngôn ngữ và khả năng toán học. Gardner phản biện rằng không chỉ có ngôn ngữ và toán học mà còn có nhiều dạng trí thông minh khác (năng lực). Ví như các nhạc công thể hiện khả năng cảm nhận, phân hóa, chuyển thể và thể hiện các thể loại âm nhạc khác nhau. Các diễn viên, vũ công và vận động viên có khả năng sử dụng hình thể để thể hiện ý tưởng và cảm xúc. Các nghệ nhân và các nhà điêu khắc có khả năng sử dụng đôi bàn tay tài hoa của mình để sáng tạo và chuyển thể.

 

   Gardner không chỉ mở rộng số lượng các dạng năng lực cá nhân mà ông còn định nghĩa các dạng năng lực đó. Ông cho rằng trí thông minh có liên quan nhiều hơn đến khả năng giải quyết vấn đề và đưa ra các quyết định hợp lý trong bối cảnh tự nhiên và đa dạng, hơn là việc thực hiện các bài test đơn lẻ.

 

   Gardner tin tưởng rằng trí thông minh không phải là việc thể hiện kết quả của bài test. Thực tế là ông đã sử dụng hệ thống 8 tiêu chí nghiêm ngặt mà thông qua đó tất cả các kỹ năng, tài năng tiềm ẩn, các năng lực tâm thần cần đạt được trước khi quyết định xem chúng có phải là các năng lực thực sự của con người. Vì vậy cho đến tận bây giờ, chỉ có 8 dạng năng lực được ghi nhận.

 

   Gardner cũng tin rằng mỗi người đều sở hữu đầy đủ các dạng năng lực này ở các cấp độ khác nhau, có dạng năng lực nổi bật hơn các dạng năng lực khác. Và các cấp độ này khác nhau trong mỗi người nói một cách khác mỗi người có một bộ hồ sơ năng lực khác nhau. Mỗi dạng năng lực đều có thể được cải thiện bằng cách trau dồi và sẽ tiếp tục được cải thiện trong suốt hành trình cuộc đời của một con người.

 

Dưới đây là 8 dạng năng lực mà Gardner đã đề xuất và định nghĩa đặc điểm của từng loại:

 

Năng lực ngôn ngữ

 

   Là khả năng sử dụng ngôn từ một cách hiệu quả: Có thể là khả năng sử dụng ngôn ngữ nói (người dẫn chuyện, người diễn thuyết, hay chính trị gia) hay khả năng viết (nhà thơ, nhà viết kịch, biên tập viên hay nhà báo…). Các hoạt động giảng dạy ngày nay đều hướng đến kỳ vọng rằng trẻ em hấp thụ thông tin thông qua nghe, đọc, nói, viết.

 

Năng lực Toán học - Logic

 

   Là khả năng sử dụng con số một cách hiệu quả (nhà toán học, kế toán thuế, nhà thống kê) và khả năng lập luận tốt (nhà khoa học, lập trình viên, nhà lý luận học). Dạng năng lực này tuân theo các thực hành giảng dạy truyền thống sử dụng các con số, các nguyên lý khoa học cũng như quan sát và thí nghiệm. Trẻ em có năng lực toán học đáp ứng tốt các câu hỏi “điều gì xảy ra nếu…)

 

Năng lực không gian

 

   Là khả năng nhận thức thế giới không gian – trực quan một cách chuẩn xác (thợ săn, hướng đạo sinh, hướng dẫn viên) và khả năng thể hiện sự chuyển thể dựa trên các nhận thức về không gian – hình ảnh (thiết kế nội thất, kiến trúc sư, nghệ sĩ, hay nhà phát minh). Dạng năng lực này đòi hỏi sự nhạy cảm với màu sắc, đường nét, dạng hình khối, không gian và mối quan hệ tồn tại giữa các yếu tố này. Nó bao gồm khả năng hình dung và thể hiện bằng đồ họa những ý tưởng không gian trực quan này.

 

Năng lực vận động

 

   Là khả năng sử dụng toàn bộ cơ thể để diễn tả ý tưởng và cảm giác một cách khéo léo (diễn viên, vận động viên hoặc vũ công) và khả năng sử dụng đôi bàn tay tài hoa để sáng tạo và chuyển thể (nghệ nhân, nhà điêu khắc, thợ cơ khí, bác sĩ phẫu thuật). dạng năng lực này liên quan đến các cử động cơ và sự khéo léo của cơ thể bao gồm phần vỏ não điều khiển hoạt động của cơ thể.

 

Năng lực âm nhạc

 

   Là khả năng nhận thức các hình thức âm nhạc (người thưởng thức), khả năng phân biệt các hình thức âm nhạc (nhà phê bình âm nhạc), khả năng chuyển thể (nhà soạn nhạc), khả năng thể hiện (nhạc công, ca sĩ biểu diễn). Học viên âm nhạc có khả năng phận biệt và ghi nhớ giai điệu. Dạng năng lực này dựa trên khả năng phát hiện mẫu âm bao gồm các âm thanh khác nhau từ môi trường và sự nhạy bén với nhịp điệu và tiết tấu.

 

Năng lực thiên nhiên (trí thông minh về thế giới tự nhiên)

 

   Là khả năng phân biệt các sinh vật (nhà thực vật học, nhà sinh học, bác sĩ thú y, kiểm lâm) cũng như sự nhạy bén với các đặc thù khác của thể giới tự nhiên (nhà địa chất học, nhà khí tượng học, nhà khảo cổ học). Sự tinh thông trong việc phát hiện và phân loại các tạo tác văn hóa như ô tô hay giày thể thao cũng phụ thuộc vào dạng năng lực tự nhiên này.

 

Năng lực giao tiếp

 

   Là khả năng nhận thức và phân biệt trạng thái, ý định, động cơ, cảm giác của người khác (giáo viên, chính trị gia, diễn viên, nhà hảo tâm). Là khả năng sở hữu các thông tin dạng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ thông qua sự thể hiện của tất cả các loại hình vũ đạo, cử chỉ bàn tay, chuyển đông cơ thể và âm nhạc (vũ công, kịch câm, diễn viên, nhạc sĩ). Dạng năng lực này hoạt động chủ yếu thông qua mối quan hệ và giao tiếp giữa các cá nhân. Những người thuộc dạng năng lực này thường học tốt nhất bằng cách làm việc với người khác và thường rất hứng thú với các cuộc thảo luận và tranh luận sôi nổi.

 

Năng lực nội tâm

 

   Là khả năng hành động mang tính thích nghi cao. Dạng năng lực này bao gồm khả năng tự nhận thức về thế mạnh hay sự hạn chế củabản thân một cách chuẩn xác; sự ý thức được trạng thái nội tại, ý muốn, động lực, tính cách và ước muốn và khả năng tự giác, tự ý thức, tự tôn (nhà tâm lí học, triết gia, bác sĩ tâm thần…) Dạng năng lực này rất riêng biệt và sử dụng các dạng năng lực khác để tự biểu lộ.

 

   Thuyết Trí thông minh đa diện của Howard Gardner được công nhận rộng rãi ở hầu hết các môi trường giáo dục. Trong thập kỷ vừa qua, nó đã trở thành cốt lõi để phát triển giáo trình học. Việc lên giáo trình giảng dạy giải quyết được các dạng năng lực này đã trở nên quen thuộc với các giáo viên. Các hoạt động giảng dạy chính là những trải nghiệm được các giáo viên thiết kế và cung cấp cho trẻ trong một môi trường thích hợp cho sự phát triển.

   

   Các góc hoạt động (trung tâm học tập) cung cấp một hình thức hoàn hảo; giúp cho giáo viên chuẩn bị và thực hiện các hoạt động đáp ứng được đầy đủ mọi dạng năng lực. Các góc hoạt động này cho phép học sinh tham gia vào các trải nghiệm cụ thể, năng động, mang tính ứng dụng cao và không ngừng tương tác với các thiết bị, tài liệu và những con người thích hợp trong môi trường giáo dục. Học sinh có cơ hội được tiếp cận với việc học bằng dạng năng lực thế mạnh của mình cũng như có cơ hội thực hành các dạng năng lực khác. Góc hoạt động phát huy và kích thích trí thông minh của trẻ.  Phương pháp Rosemont cung cấp sự hướng dẫn cho các giáo viên thực hiện các góc hoạt động mỗi ngày để hỗ trợ phát triển tdạng năng lực này.

 

3: Miền phát triển (hay vùng phát triển)

 

   Hướng dẫn về đứa trẻ toàn diện hỗ trợ khái niệm rằng các miền, các vùng phát triển của trẻ em diễn ra đồng thời và mỗi vùng phát triển này có tầm quan trọng như nhau đối với một đứa trẻ. Các vùng phát triển này không chỉ đóng vai trò quan trọng như nhau mà cũng còn đan xem vào nhau.  Chúng ta tin rằng cảm xúc xã hội của một đứa trẻ là nguồn nhiên liệu cho trí tuệ. Nghiên cứu về sự phát triển bộ não trong giai đoạn sớm chỉ ra rằng sự phát triển cảm xúc xã hội và sự phát triển nhận thức luôn song hành với nhau. Một đứa trẻ không thể học tốt được nếu có vấn đề về trạng thái cảm xúc xã hội.

 

   Sự phát triển của trẻ được chia làm bốn vùng phát triển: Phát triển nhận thức, phát triển thể chất, phát triển về mặt xã hội và phát triển cảm xúc. Phát triển về nhận thức tập trung vào tâm trí (trí tuệ). Phát triển thể chất là sự phát triển của cơ thể và các bộ phận trên cơ thể. Phát triển vầ mặt xã hội là sự phát triển các kỹ năng tương tác với người khác. Phát triển về cảm xúc là sự phát triển sự tự tôn cũng như sự tự chủ. Các bài học hàng ngày của phương pháp Rosemont chú ý đến toàn bộ bốn vùng phát triển này.

 

4: Các lĩnh vực chủ đề

 

   Học sinh mầm non cũng học các môn toán, khoa học, xã hội học, ngôn ngữ (đọc), âm nhạc và mỹ thuật giống như trẻ ở bậc tiểu học. Các môn học được dạy và học phối kết hợp thông qua từng hoạt động. Ví dụ, khi ghép hình với những khối hình khác nhau, trẻ học được các khái niệm toán học như đếm – biết số lượng khối hình cần có để lắp ghép một vật như ngôi nhà hay chiếc xe; và hình học như biết được hình dạng của từng khối hình và kết quả khi lắp ghép các khối hình khác nhau; trẻ học khoa học khi trẻ khám phá trọng lực và sự cân bằng; trẻ học kỹ năng xã hội và ngôn ngữ khi trẻ hợp tác, giao tiếp với nhau để cùng dựng một tòa tháp, lâu đài hay pháo đài. Việc dạy và học các kỹ năng và các khái niệm luôn xong hành cùng nhau. Một giáo viên giỏi ý thức một cách đầy đủ về những gì được học và phương pháp dạy học trong suốt quá trình diễn ra các hoạt động thường nhật. Phương pháp giáo dục của Rosemont là sự phát huy toàn diện sự phối hợp này.

 

5: Dạy và học theo sở thích của trẻ

 

   Nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả chúng ta không chỉ riêng trẻ nhỏ đều có xu hướng tiếp nhận những thông tin thuộc sở thích của chúng ta (Sousa, 1995). Phiêu theo sở thích của trẻ giúp trẻ liên hệ những gì trẻ biết với kiến thức được học và giúp trẻ áp dụng kiến thức mới trong một ngữ cảnh phù hợp.

 

   Phương pháp Rosemont được thiết kế nhằm đan xen các nhân tố của một giáo trình mầm non toàn diện. Các bài học và các hoạt động phải đảm bảo các tiêu chí sau:

 

  • Phải bao gồm tất cả các phong cách học tập(1)
  • Phải thiết kế các góc hoạt động đáp ứng và phát huy được tám dạng trí thông minh của thuyết trí thông minh đa diện(2)
  • Phải bao gồm mọi khía cạnh của các vùng phát triển(3)
  • Phải bao gồm đủ các lĩnh vực chủ đề (4)
  • Phải dựa trên các chủ đề hấp dẫn với các sở thích của trẻ(5)
Loading…